Nghệ thuậtSân khấu-Biểu diễn

Thứ Tư, 08/06/2011 | 00:00 GMT+7

NHÌN LẠI CON ĐƯỜNG ĐÃ QUA CỦA SÂN KHẤU VIỆT NAM (P2)

Về sân khấu cải lương

 

Sân khấu cải lương xuất hiện ở miền Nam vào những năm đầu của TK XX, hầu như cùng thời với sân khấu kịch nói. Nó thoát thai từ phong trào đàn ca tài tử và hình thức ca ra bộ.

Miền Nam là vùng đất có làn sóng đô thị hóa và chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây sớm nhất nước ta. Tuồng chèo không hoàn toàn thích hợp với nhu cầu thưởng thức của nhân dân, họ muốn có một hình thức sân khấu khác, phù hợp hơn về nội dung cũng như hình thức.

Danh từ cải lương, tự nó cũng đã nói lên xu hướng đó.

Không bị ràng buộc vào những quy phạm sân khấu cổ truyền, lại thoát thai từ một vùng đất năng động nên ngay từ khi hình thành, sân khấu cải lương đã có sự tự do nhất định và khả năng tả xung hữu đột, tự biến đổi theo nhu cầu cuộc sống một cách nhanh nhạy, khác với sự gò bó hàng thế kỷ của tuồng và chèo.

Nó sẵn sang tiếp thu những gì cần thiết từ vốn cổ tuồng chèo, từ hý khúc Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến của hàng triệu người Hoa ở vùng Chợ Lớn, kể cả hình thức melodrame của sân khấu Pháp.

Tiêu chuẩn duy nhất của nó là đáp ứng nhu cầu thưởng thức của khán giả các đô thị và vùng đồng bằng Nam Bộ. Chỉ trong có mấy thập niên ta thấy xuất hiện hàng chục hình thái sân khấu cải lương với đại đồng tiểu dị khác nhau: cải lương cổ trang với cân đai áo mão tuồng tích cổ, cải lương tâm lý xã hội hiện đại với phục trang tây y áo dài, cải lương kiếm hiệp, cải lương tuồng Tàu hay La Mã, cải lương đu bay súng lục... tùy theo sở trường và khẩu vị của các thày tuồng bầu gánh các đoàn như Trần Hữu Trang, Năm Châu, Ba Vân... và túy theo đòi hỏi của người xem.

Từ bài Dạ cổ hoài lang, Vọng cổ tám nhịp tới 36 nhịp rồi hàng trăm ca từ trong một câu hát và hàng trăm bài bản... kể cả đôi ca khúc Tây lời Việt. Dàn nhạc với cây ghi ta phím lõm đi kèm với cả kèn xắc xô và đàn ooc gan...

Trong sự phát triển nhanh chóng, đa dạng và đôi lúc hỗn tạp đó, phải thừa nhận rằng sân khấu cải luơng đã có một ma lực kỳ lạ. Chỉ trong vòng vài chục năm, từ miền Nam cải lương đã phát triển ồ ạt ra khắp nước, gây nên một cuộc khủng hoảng cho cả nền sân khấu một thời, đến mức nhiều đoàn chèo tuồng đã phải chuyển sang cải lương để tiếp tục tồn tại. Các đoàn cải lương phía Bắc cũng phát triển như nấm mùa xuân. Cải lương Nam, Bắc ra vào tấp nập, tạo ra một cuộc giao lưu toàn quốc chưa từng có trong hoạt động sân khấu.

Về xu hướng sáng tạo, sân khấu cải lương hầu như cũng mang tính khuyến giáo như tuồng và chèo. Nhưng về hình thức thể hiện nó không bị gò vào xướng tác niệm đả. Vì chưa có một hệ thống vũ đạo riêng nên ở những vở cổ trang cải lương đã tiếp thu khá nhiều trình thức múa và động tác cơ huấn cơ bản của tuồng. Ở những vở tâm lý xã hội hiện đại biên kịch theo màn lớp và hình thức biểu diễn gần như chỉ có hát và nói... Và dù là cải lương với màu sắc gì thi bài Vọng cổ vẫn là bài bản ca trụ cột, không thể thiếu.

Hệ thống bài bản và vũ đạo cải lương chỉ được hệ thống hóa sau này một cách rõ ràng qua hai nghệ nhân Ba Du và Tám Danh.

Từ khi đất nước mở cửa, nhiều hình thức nghệ thuật bên ngoài thâm nhập một cách ồ ạt. Sân khấu cải lương, dù là loại hình sinh thành ở miền Nam, được nhân dân say mê như nghiện, cũng đã bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều đoàn rã đám vì không trụ nổi.

Đã có nhiều hình thức nhằm thu hút khán giả như: đêm diễn của những ngôi sao, đêm chuyên những trích đoạn mẫu mực, đêm của một nghệ sĩ cải lương chi bảo, vở diễn cải lương đại cảnh... nhưng vẫn chưa mang lại nhiều hứa hẹn!

Thực ra không phải người xem, nhất là người xem nông thôn, đã hoàn toàn quay lưng lại với kịch hát, nhưng cần phải có một sự đổi mới nghệ thuật và điều kiện hoạt động khác trước.

Nếu quan niệm kịch hát dân tộc là một di sản cần gìn giữ bằng mọi giá ắt phải quyết tâm giao cho một tổ chức có trình độ cùng nhau tìm biện pháp làm cho nó thích ứng được nhu cầu mới. Tiếc rằng hiện không có một thiết chế nghiên cứu thực nghiệm nào cả, chỉ là mạnh ai nấy làm.

Cũng cần phải tạo những điều kiện cần thiết để nó có thể duy trì hoạt động mà không phải chỉ là mạnh ai nấy lo, vì không thể có một đối sách như nhau đối với loại hình ăn khách cũng như đối với loại hình đang gặp khó khăn.

Về loại hình kịch nói

Kịch nói Việt Nam đã hình thành theo phong trào Âu Tây tư tưởng.

Nó đã xuất hiện ở Việt Nam cùng với một loạt loại hình mới như: tranh giá vẽ, tân nhạc, nhiếp ảnh, chiếu bóng, văn xuôi, báo chí...

Du nhập từ phương Tây, nó đã tiếp thu cả phương pháp nghệ thuật và quan niệm thẩm mỹ phương Tây đã từng trải qua hàng ngàn năm.

Với thuận lợi không phải hát múa và gò vào những trình thức ước lệ cách điệu, ngay từ đầu nó đã mong muốn trực tiếp phản ánh được thực trạng xã hội và những nhu cầu tư tưởng của con người đương thời một cách hiện thực và nhanh nhậy

Chỉ qua một số vở dịch, một vài vở diễn kịch cổ điển Pháp, một đôi vở thử nghiệm, ngày 22-10-1921 với vở Chén thuốc độc của Vũ Đình Long tại Nhà hát lớn Hà Nội (chuyên dành cho người Pháp) kịch nói Việt Nam đã được coi như chính thức ra đời.

Quá trình du nhập này khá nhanh so với một số nước có hoàn cảnh tương đồng.

Từ đó, trừ một số vở diễn kịch nước ngoài mang tính giao lưu văn hóa, nhất là ở giai đoạn có quan hệ mật thiết với các nước xã hội chủ nghĩa, kịch nói Việt Nam chủ yếu là do người Việt Nam viết và người Việt Nam dàn diễn.

Cũng từ đó tới nay, do sở trường loại hình, kịch hát hầu như chuyên về đề tài lịch sử và kịch nói luôn là mũi nhọn trong việc phản ánh cuộc sống đương đại.

Hai thập niên trước Cách mạng tháng Tám, nếu kịch nói trong các nhà tù do các chiến sĩ cách mạng sáng tạo chủ yếu là đấu tranh chính trị thì kịch nói công khai tập trung vào phản ánh những xung đột xã hội đương thời.

Nó phát triển song song với phong trào Thơ mới và làn sóng Tư lực văn đoàn của văn xuôi. Người viết hầu hết là những cây bút đã có vị thế trên văn đàn.

Tuy chính chất khuyến giáo đạo đức vẫn được coi trọng nhưng nội dung đạo đức, lối sống đã được khắc họa từ thực tế cụ thể của xã hội Việt Nam.

Chống đạo đức phong kiến cổ hủ hoặc ngược lại đả phá lối sống lai căng mất gốc, phần lớn đều xảy ra trong gia đình, những tế bào cơ bản của xã hội.

Bên cạnh đó,vì là một đất nước có truyền thống thơ ca và nghệ thuật ngâm thơ nên kịch thơ với những đề tài lịch sử cũng song song phát triển.

Xu hướng hiện thực, lãng mạn, hiện thực phê phán và cách mạng đã xuất hiện hầu như cùng thời và cùng tồn tại cho tới khi cách mạng nổ ra.

Cách mạng tháng Tám thành công, kịch nói đã phát huy ngay thế mạnh của mình. Nhiều vở diễn với nội dung cách mạng, tuy nghệ thuật còn non yếu, đã lần lượt ra đời, tạo nên một bộ mặt mới mẻ cho toàn bộ nền sân khấu.

Nhưng rồi chỉ được hơn một năm, thực dân Pháp gây hấn trở lại, khiến nước ta phải tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh 8 năm rồi lại kháng chiến chống Mỹ cho tới năm 1975, đằng đẵng gần 30 năm.

Chiến tranh bản thân nó đã là một hoàn cảnh không bình thường, nhưng ở đây càng không bình thường hơn ở chỗ nó kéo dài 30 năm, trong một đất nước bị chia cắt với hai thể chế chính trị khác nhau, toàn dân phải một tay cầm súng một tay cầm cày, dù ác liệt tới đâu, trải qua mấy thế hệ, cũng phải chiến đấu tới cùng.

Trong lịch sử thế giới hiện đại không có một đất nước nào phải trải qua một tình huống như thế.

Trong ba mươi năm ấy lại xảy ra hàng loạt biến động chưa từng có: tập kết, di cư, cải cách ruộng đất. cải tạo công thương nghiệp, đấu tranh thống nhất, giải phóng miền Nam, di tản, cải tạo ngụy quân ngụy quyền... những biến động lịch sử quan thiết đến hàng triệu người...

Hoàn cảnh không bình thường này tất yếu buộc sân khấu, cũng như mặt trận văn học nghệ thuật nói chung phải có một phương thức hoạt động với những nội dung và hình thức tương ứng.

Theo kinh nghiệm lịch sử nghệ thuật, trong thời đại có quá nhiều biến động thì sân khấu thường theo phương pháp cấu trúc tự sự (epique) hơn là cấu trúc kịch tính (dramatique) thiên về mô tả các sự kiện, hành động hơn là tập trung vào xây dựng tính cách, mổ xẻ tâm lý chi li. Bởi vì chỉ có cấu trúc tự sự, với dung lượng sự kiện, tình tiết phong phú mới có thể cung cấp được một cái nhìn bao quát đối với thực tế.

Thông thường giá trị của sân khấu là ở chỗ có con mắt tinh tường, biết phát hiện ra những mâu thuẫn xung đột tiềm ẩn trong cuộc sống mà người đời khó phát hiện, những mâu thuẫn xung đột đang cản trở cuộc sống tiến lên, xúc phạm tới lý tưởng sống của con người... Sự đa dạng của một nền sân khấu chính là ở nội dung phong phú của các diện mâu thuẫn xung đột.

Nhưng mâu thuẫn xung đột của sân khấu thời chiến đã rõ ràng. Đó là xung đột mang tính đối kháng giữa dân tộc và kẻ xâm lược.Ta chính nghĩa, địch phi nghĩa. Ta phải nhất định chiến thắng, địch tất yếu sẽ thất bại... Vấn đề là có một cốt kịch xác thực, lôi cuốn, với nhiều tình tiết, gây được niềm tin tất thắng và được mô tả một cách khéo léo.

Ở hậu phương, trong cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa tuy cũng nảy sinh những mâu thuẫn nhất định, nhưng đã có lúc người làm sân khấu và những nhà quản lý cũng chịu ảnh hưởng của thuyết vô xung đột (hình thành trong một thời gian ngắn ở sân khấu Xô viết), hoặc lo việc thể hiện mâu thuẫn nội bộ có thể phá vỡ khối đoàn kết nhất trí toàn dân, cũng có thể khiến cho nhân dân miền Nam hiểu lầm về bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội phía Bắc...

 

Ai cũng biết ra tiền tuyến không phải là một cuộc dạo chơi, sẽ có đổ máu hy sinh nhưng làm sao để người xem không vì thế mà dao động nhụt chí chiến đấu. Làm thế nào để tránh được sơ lược nhưng cũng không làm người xem sợ hãi, tổn hại đến phương châm ngợi cachủ nghĩa anh hùng cách mạng...

Dù cũng biết văn học nghệ thuật (theo quan niệm thời đó) có ba chức năng: phản ánh, giáo dục và thẩm mỹ nhưng trong thực tế quản lý và thực tiễn sáng tạo, chức năng giáo dục thường được nhấn mạnh hơn tất cả, thậm chí đôi khi tính giáo dục bị lẫn lộn với mục đích tuyên truyền chính trị.

Ngoài phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa, mọi khuynh hướng khác đều bị coi là xa lạ, sai lầm.

Có lẽ không cần nhắc thêm mọi yếu tố đã chi phối sự sáng tạo sân khấu thời chiến. Đó là những hạn chế mà những ai trực tiếp sáng tạo cũng tự cảm thấy, nhưng cũng phải thừa nhận là điều dễ xảy ra trong một hoàn cảnh không bình thường như đã nói trên.

Hơn nữa, hoàn cảnh chiến tranh cũng buộc sân khấu phải hoạt động theo những phương thức không bình thường. Nhà hát thời chiến thực ra là ở trên lưng diễn viên, lưu động quanh khắp các hang cùng ngõ hẻm, bên mâm pháo, dọc chiến hào, thậm chí có khi là trong các địa đạo, buổi diễn thường xảy ra giữa những đợt báo động hoặc bị địch bắn phá... Điều kiện gian khó đó đã không cho phép sân khấu có một hình thức chính quy như mong muốn.

Tuy nhiên lúc này nhìn lại có lẽ ta không khỏi ngạc nhiên rằng: kịch nói Việt Nam trở thành chuyên nghiệp, chính quy với phương pháp sáng tạo khoa học chỉ trong một thời gian ngắn yên bình giữa hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Nhiều nghệ sĩ đang chỉ đạo hoạt động sân khấu hôm nay đều đã trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến gian khổ và thần thánh đó.

Sân khấu kháng chiến cùng với văn học nghệ thuật nói chung, với một khối lượng không ít, tuy được sản sinh trong một hoàn cảnh vô cùng ác liệt mà kẻ địch muốn đẩy nước ta trở lại thời kỳ đồ đá, đã được các nước đánh giá là một nền văn nghệ tiên phong trên mặt trận chống đế quốc.

Đó là niềm vinh dự lớn. Ngày nay nhắc đến sân khấu kháng chiến chúng ta không thể không cảm thấy tự hào và xúc động.

Nhưng là người trong cuộc, chắc chúng ta cũng tự thấy nó còn chưa thật sự tương xứng với tầm vĩ đại của cuộc kháng chiến thần thánh và chưa lột tả hết được sự thật khốc liệt như chúng ta đã biết.

Số lượng tác phẩm tuy rất phong phú nhưng số có độ bền năm tháng không nhiều như ta mong muốn. Cần có một độ lùi thời gian nhất định để suy ngẫm, nhưng cuộc chiến đã diễn ra liên tục và kéo dài.

Khi kháng chiến và thống nhất thắng lợi thì nhiều cây bút đã luống tuổi và mệt mỏi, không ít tác giả đã ra đi cùng với những gì còn ấp ủ thai nghén.

Giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc và đổi mới

Niềm vui lớn nhưng cũng đi kèm với bao nhiêu khó khăn. Sân khấu phút chốc phải đối mặt với một tầng lớp người xem đông đảo đã nhiều năm cách biệt về tư tưởng và văn hóa.

Hội diễn sân khấu toàn quốc năm 1985 tại Sài Gòn, báo chí đã thừa nhận các vở diễn của phía Bắc là những cỗ xe tăng văn hóa hùng mạnh. Giới văn nghệ nói chung cũng thừa nhận là sân khấu đã có tiếng nói mới mẻ sớm hơn các loại hình khác.

Những vấn đề dân chủ, cải tiến trong quản lý sản xuất, bình đẳng trước pháp luật, va chạm quan điểm sống giữa các thế hệ... đã được đề cập một cách thẳng thắn và mạnh mẽ.

Nhưng nghịch lý xảy ra là từ khi nước ta xóa bỏ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, mở cửa với thế giới, thực thi cơ chế kinh tế thị trường... Tưởng rằng đó sẽ là cơ hội để sân khấu cũng mọi ngành cất cánh, nhưng không ngờ sân khấu lại rơi vào khủng hoảng, lúng túng từ đó cho tới tận hôm nay.

Nguyên nhân là do sân khấu đã không được chuẩn bị chu đáo trước ngưỡng cửa đổi mới. Chủ trương xã hội hóa được đề ra nhưng không có những chính sách, biện pháp cụ thể và cần thiết đi kèm.

Người xem đòi hỏi sân khấu cần phản ánh những vấn đề đang xảy ra trong cuộc sống với một phương thức khác với thời chiến, nhưng sân khấu vốn dĩ lâu năm mang tính quan phương, bao cấp... đã không thích ứng kịp.

Tuy văn hóa được nhìn nhận là động lực và mục tiêu phát triển nhưng qua nhiều năm gian khổ, kinh tế và xu hướng làm giàu, cải thiện cuộc sống vật chất vẫn được xã hội nói chung chú ý hơn.

Hiện hoạt động sân khấu ở phía Nam vốn dĩ quen xã hội hóa từ lâu nên có phần chủ động hoạt bát nhưng lại thiên về giải trí. Sân khấu phía Bắc với chính kịch, lúng túng, hoạt động cầm chừng và vẫn chưa rõ phải thoát ra khỏi tình trạng này như thế nào.

Đối với sân khấu tác động của đổi mới và mở cửa hầu như chỉ rõ rệt là có thêm nhiều luồng gió mới thổi vào, tạo nên sự đa dạng nhưng cũng gây nên một cuộc cạnh tranh quyết liệt, phân hóa đối tượng người xem.

Và so với các ngành văn hóa nghệ thuật khác, tầm nhìn của sân khấu hầu như vẫn còn khép kín, vẫn còn là cảnh ngồi đáy giếng.

Trong khi qua xuất nhập khẩu, in ấn sách và băng đĩa hình và tiếng, qua vô tuyến truyền hình, các bộ môn văn học, hội họa, âm nhạc, vũ đạo... ít nhiều đều có thể bắt nắm được những động tĩnh của hoạt động và xu hướng sáng tạo trên thế giới thì giới sân khấu vẫn chỉ là kẻ mò mẫm trong đêm vì không hề được đọc kịch bản, được xem diễn những trước mới của ngành mình.

Trong khi người đọc người xem bình thường có thể tiếp cận những tác phẩm văn học mới, những bộ phim bản nhạc vừa ra đời, những quan điểm nghệ thuật đang được trao đổi.... thì giới sân khấu hầu như đa số không hay biết gì về động tĩnh của ngành mình trên thế giới.

Về hiểu biết nghề nghiệp đã có, ngoài phương pháp sân khấu hiện thực tâm lý của Stani, đôi nét phương pháp tự sự biện chứng của Brecht, đa số nghệ sĩ sân khấu đều không hay biết gì về các khuynh hướng và phương pháp sáng tạo mới khác.

Đội ngũ tác giả và lý luận phê bình được đào tạo một cách hệ thống, có kinh nghiệm hoạt động ngày càng thưa vắng. Đạo diễn, diễn viên ít có điều kiện thử thách qua dàn diễn những trước tác mẫu mực. Ai cũng thấy cần phải đổi mới nhưng đổi mới như thế nào, không rõ.

Lúc này, mọi người đều thừa nhận, trải qua những năm tháng đổi mới đất nước ta đã có một sự phát triển vượt bậc, đã le lói dần những dấu hiệu của một xã hội công nghiệp hiện đại. Nhưng đồng thời cũng xuất hiện một tình trạng mất thăng bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần: kinh tế lấn át văn hóa, thực dụng lấn át lý tưởng, ngoại lai lấn át dân tộc, hiện đại lấn át truyền thống, cá nhân lấn át cộng đồng... nhiều hiện tượng suy thoái về đạo đức, sự phân tầng xã hội, cách biệt giàu nghèo xuất hiện một cách nhanh chóng, thậm chí đôi khi phi lý, khiến mọi người có ý thức không khỏi băn khoăn lo lắng.

Lẽ ra trong tình hình này sân khấu cần nhạy bén hơn để phát huy tác dụng của mình. Còn cần nỗ lực hơn cả thời kỳ chiến tranh, vì thuở đó toàn dân đều tự giác đoàn kết nhất trí xung quanh mâu thuẫn cơ bản giữa ta và địch, trước mặt là lý tưởng, sau lưng chỉ là chiếc ba lô, còn hôm nay lại là mâu thuẫn nội bộ phát sinh ở mọi bình diện của cuộc sống, tính chất và hình thức mâu thuẫn hết sức đa dạng và tinh vi. Hầu như ở tầng lớp xã hội nào cũng đang có những băn khoăn trăn trở.

Mở cửa làm bạn với thế giới, toàn cầu hóa không có nghĩa là xóa nhòa mọi quyền lợi của từng dân tộc, hội nhập không có nghĩa là hòa tan không cần gìn giữ nguồn gốc và bản sắc văn hóa của đất nước.

Thực thi cơ chế kinh tế thị trường, mọi thành phần đều bình đẳng trước pháp luật nhưng không có nghĩa là mọi thành phần kinh tế đều có những thuận lợi như nhau. Sự phân tầng xã hội nhanh chóng đã làm cho con người có những suy nghĩ khác nhau trước cùng một chính sách xã hội.

Tôn trọng quyền lợi cá nhân không có nghĩa là không cần đếm xỉa đến lợi ích tập thể...

Khẩu hiệu bình đẳng, công bằng, dân chủ và văn minh vẫn còn là một lý tưởng còn xa mới thành hiện thực được. Thâm tâm nhiều người vẫn cảm thấy hôm nay muốn sống một cách chân chính còn khó hơn những năm tháng chiến tranh...

Đó chính là thực tế mà sân khấu cần quan tâm, có nhiều vấn đề có thể khai thác, nhưng đáng tiếc là những băn khoăn trăn trở đó hầu như thường nằm lại ở bên ngoài nhà hát. Rất hiếm vở diễn gây được suy tư và xúc động như những năm tháng kháng chiến.

Hàng năm vẫn có trại sáng tác, nhưng có rất ít vở lên sàn và nếu có dăm ba vở diễn mới thì cũng không được mấy ai nhắc nhở bàn tán. Người viết hình như không chịu bám sát thực tiễn như những năm tháng trước. Có cảm giác như bản thân một số người viết cũng không mấy băn khoăn trăn trở trước thời cuộc, không xác định được mâu thuẫn xung đột chủ yếu của thời đại hôm nay là gì, nhân vật điển hình của xã hội lúc này là ai!

Người xem cảm thấy nếu là đề tài lịch sử thì nặng về minh họa hơn là phân tích lý giải, là đề tài đương đại thì cũng không rõ là để đáp ứng nhu cầu nhận thức vấn đề nhức nhối nào trong cuộc sống.

Tôi tự hỏi: Nguyên nhân nào đã khiến cho sân khấu lúc này chưa đáp ứng được long mong mỏi của người xem? Phải chăng là do chúng ta phần nào lung túng khi muốn thực hiện đúng chức năng và bản chất của sân khấu?

Trong nhận thức chúng ta đều hiểu nhiệm vụ của sân khấu là cần phát hiện và góp phần giải đáp cho những mâu thuẫn xã hội nhưng một thời gian dài chúng ta đã coi sự đoàn kết nhất trí toàn dân là điều kiện tiên quyết để chiến thắng xâm lược và ngay lúc này vẫn coi nhất trí cao là một mục tiêu trong sinh hoạt tư tưởng mà coi nhẹ quy luật rằng: đoàn kết và nhất trí chỉ có thể thực sự xuất hiện qua cuộc thẳng thắn đấu tranh.

Chúng ta ngại đấu tranh vì e ngại rồi mâu thuẫn nội bộ có thể trở thành đối kháng chăng. Chúng ta có thể phát hiện một cách sắc bén những khiếm khuyết của những xã hội khác nhưng lại ngại đề cập tới những thiếu sót của xã hội ta bởi lẽ nó là do ta xây dựng nên

Cũng có thể do trong quản lý đời sống văn hóa nghệ thuật trước đây đã có những xử lý không đúng gây thiệt thòi cho người sáng tạo nên ta ngần ngại khi chưa tự tin mình...

Bất giác nhớ lại những cảm nghĩ tâm đắc của các tác giả kinh điển: ...Sáng tạo là sự khách quan hóa những băn khoăn trăn trở của chính bản thân họ và của người đời, những nỗi băn khoăn cần được bộc lộ ra trước mắt mọi người, được hóa thân thành những nhân vật sân khấu và những cuộc va chạm cụ thể.

Họ luôn mong mình là người có thể nắm bắt và nói lên được thành lời những tâm tư thầm kín của con người, qua đó kéo con người ra khỏi nỗi cô đơn và khiến họ cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng hơn vì được thấy những cảm nghĩ của riêng mình đã bắt gặp sự đồng vọng ở mọi người...

Và điều thích thú nhất của khán giả chính là qua sân khấu có dịp được nhận diện lại mình, thấy mình được mô tả, và được thấu hiểu bởi những người khác...

         Và tôi tự hỏi: liệu đó có phải là những lời nhắc nhủ, một bàn tay vẫy gọi ở phía trước, sau cả một chặng đường dài đã đi qua của sân khấu chúng ta.


Nguồn : Tạp chí VHNT số 317, tháng 11-2010

Tác giả : Đình Quang

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan