Nghệ thuậtSân khấu-Biểu diễn

Chủ Nhật, 12/06/2011 | 00:00 GMT+7

HẬU TỔ CỦA NGHỆ THUẬT TUỒNG

Đào Tấn (1845-1907) tự Chỉ Thúc, hiệu là Mộng Mai, về sau còn có tên khác là Mai Tăng. Chữ Mai (trong ý nghĩa hoa mai) gắn liền với cuộc đời ông như một biểu tượng về sự ngưỡng vọng cái đẹp. Cuộc đời ông là cuộc đời làm nghệ thuật đúng nghĩa, làm quan chỉ là câu chuyện áo cơm.

Đào Tấn, cũng như bao ông quan Việt Nam khác trong thời điểm bấy giờ, sống trong bi kịch nước mất nhưng vẫn còn thống thiết với câu chuyện trung quân, vẫn còn mò mẫm với thuyết quyền biến. Ông mang trong mình nỗi đau của một thế hệ vong quốc nhưng chưa nhận thức hết được nỗi mất mát lớn lao ấy. Ông để lại cho hậu thế sự nghiệp đồ sộ không chỉ ở những thành tựu văn chương mà còn đưa nghệ thuật sân khấu tuồng lên vị trí đỉnh cao và bác học hóa kịch bản tuồng.

Đào Tấn được tôn xưng là hậu tổ của nghề tuồng (người được xem là khai sinh ra tuồng Việt là ông Đào Duy Từ). Tuồng là một trong ba loại hình cơ bản của sân khấu kịch Việt Nam truyền thống bên cạnh chèo, cải lương. Nghệ thuật sân khấu này đã có một sự phát triển rực rỡ vào thời chúa Nguyễn ở đất Đàng Trong (từ sông Gianh - Quảng Bình trở vào) và về sau trở thành nghệ thuật cung đình thời Nguyễn rồi lan rộng trong dân gian. Nhắc đến tuồng người ta nhớ ngay đến vùng đất Quảng Nam, Bình Định và Huế. Đặc sắc của tuồng không chỉ nằm ở giá trị nhân sinh của kịch bản văn học mà còn là nghệ thuật sân khấu đạt đến độ tượng trưng cao, âm nhạc được đánh giá là một trong những thành tựu lớn của nghệ thuật thanh nhạc Việt Nam.

Trước Đào Tấn, nghệ thuật tuồng đã có những thành tựu nhất định. Những vở tuồng cổ cho đến nay vẫn còn được xem là mẫu mực của nghệ thuật sân khấu cổ điển, được gọi là tuồng thày và về mặt văn học là những tác phẩm kịch đặc sắc, có những chuẩn mực đặc trưng riêng. Mỗi vở tuồng gồm 3 hồi, 1 hồi hoặc liên hồi, khai thác sự kiện có tính xung đột cao. Tuồng có một khoảng không rộng rãi mà ở đó nhà văn xây dựng nhân vật như những con người cá nhân hết sức sống động để rồi qua biểu diễn cộng hưởng với tài năng của người diễn viên trở thành nhân vật đi vào lòng công chúng. Đào Tấn đã thể hiện sự sáng tạo của ông khi xây dựng nên những nhân vật rất gần gũi và những cảnh tuồng mang tính dụ ngôn thời đại. Nhân vật hoàn toàn được vay mượn từ các tích truyện Trung Hoa nhưng chúng ta đọc lên vẫn thấy ngay đó là những con người gần gũi mang đầy hồn cốt của dân gian Việt. Một cặp vợ chồng như Tiết Cương, Trần Lan Anh (trong vở Hộ sinh đàn) chạy loạn lạc nhau; đến khi gặp gỡ, ngòi bút của Đào Tấn dành cho họ những đoạn tâm sự rất chân tình, hệt như một đôi vợ chồng quê về chuyện đứa con bú sữa, thiếu sữa cắn vú mẹ đau, chuyện người vợ mong gặp chồng để méc (chữ dùng của Đào Tấn - nghĩa là kể lại, mách lại) đầy nũng nịu... Những tình tiết ấy, làm sao có trong chuyện xưa tích cũ được, phải qua bàn tay tài hoa của Đào Tấn mà nên hình hài. Hay như câu chuyện về hồ ly tinh hóa thân thành Đắc Kỷ thâm nhập vào cung vua Trụ mê quyến nhà vua (vở Trầm hương các), đến lớp các nhân vật là hồ cáo đến cung vua dự yến tiệc thật sinh động và đầy dụ ngôn về triều đình hiện tại. Lấy tích từ truyện Phong thần diễn nghĩa nhưng các nhân vật trong vở tuồng này dùng từ rất hiện đại như sâm banh, thầy đội... Hình ảnh bầy quỷ trắng ở trong triều uống rượu ăn thịt tươi, khó có thể không khiến người đọc, người xem nghĩ ngay đến cảnh thực dân Pháp đang khống chế triều Nguyễn đương thời. Có thể nói, qua mỗi vở tuồng, Đào Tấn đã dùng cách dụ ngôn để phản ánh thời đại sâu sắc. Ôn cố tri tân là vậy, bao giờ văn chương nghệ thuật dù lấy bối cảnh nào cũng là hơi thở của thời đại.

Đào Tấn là nhà soạn tuồng tiêu biểu và cả cuộc đời ông gắn liền với loại hình nghệ thuật sân khấu này. Ban đầu ông được vua Tự Đức phong hàm Kiểm tịch ở Ban hiệu thư (ban này có nhiệm vụ sáng tác và chỉnh lý tuồng cổ). Về sau cùng với những chuyển biến trên con đường hoạn lộ ông về sống ở quê nhà và tiếp tục sáng tác, biểu diễn tại địa phương. Ông đã để lại 15 vở tuồng có giá trị nghệ thuật cao và tính nhân sinh sâu sắc. Trong đó có những vở đã đạt đến độ kinh điển và được rất nhiều đoàn hát tuồng biểu diễn như: Hộ sinh đàn, Hoàng Phi Hổ quá giới bài quan, Trầm hương các, Cổ thành...

Sự vĩ đại của Đào Tấn không chỉ ở việc ông đưa nghệ thuật tuồng lên đỉnh cao mà còn ở tâm hồn yêu nghệ thuật và đạo đức nghề nghiệp. Ông đã bứt phá ra khỏi kiểu minh họa tư tưởng chính thống như tuồng cổ mà luôn hướng về lớp giải trí bình dân, đưa vào tuồng những lớp hài rất đặc trưng dân gian và điều đó cho thấy ông hiểu rõ mảnh đất lớn nhất của nghệ thuật không phải không gian bác học mà là ở dân gian và chức năng lớn của nghệ thuật chính là mang đến tiếng cười, sự giải trí cho con người. Với tư cách là một đạo diễn sân khấu, Đào Tấn là người thử nghiệm sân khấu tự nhiên, ông dựng sân khấu tự nhiên dựa theo ao hồ hay đoạn đường dài thậm chí ông còn cho bứng trồng cây cối trên sân khấu. Trong điện ảnh hiện đại, bối cảnh được dàn dựng rất công phu là điều dĩ nhiên nhưng ở nghệ thuật sân khấu cổ trung đại đó là sự đột phá lớn. Nó cho thấy ông đã chú tâm đến phông cảnh, dẫu ở một loại hình nghệ thuật đầy ước lệ thì vẫn cần đến những xúc cảm tự nhiên để tác động mạnh mẽ đến người xem. Đối với diễn viên, ông trực tiếp dạy họ các điệu bộ, các điểm nhấn trong cách thể hiện tính cách nhân vật. Ông còn cách tân một số phục trang tuồng truyền thống... Đào Tấn trách nhiệm không chỉ ở từng câu chữ mà ông hết mình với buổi biểu diễn tuồng trước công chúng, cách truyền đạt ý đồ kịch bản tốt nhất. Cuộc đời Đào Tấn khiến chúng ta hiểu được nghệ thuật không chỉ là câu chuyện của tài năng mà còn là sự nỗ lực tìm hiểu thực tế, một đạo đức nghề nghiệp trong sáng và sự hết mình đối với từng vai trò, từng buổi diễn.

Làm nghệ thuật là một nghiệp dĩ, dường như nó không dung nạp những con người thiếu lương tri, lương năng với nghề, với khán thính giả, với độc giả. Ở Đào Tấn, cuộc đời nghệ thuật của ông vẽ nên chân dung về con người trải mình với từng con chữ, từng đêm diễn để mua vui - thực hiện chức năng giải trí của sân khấu cho công chúng. Ý thức làm nghệ thuật của ông xuyên suốt qua từng vở tuồng, qua cách dàn dựng sân khấu, qua việc hướng dẫn các diễn viên cách hát và thực hiện các điệu bộ. Như cách nói hiện đại, ông vừa là nhà biên kịch vừa là đạo diễn lại chịu trách nhiệm cả phần âm nhạc. Vốn ông là người sáng tác nên các nhạc chương khúc điệu phục vụ trong triều đình, nên âm nhạc trong tuồng Đào Tấn có một nét điển nhã mà các nhà soạn tuồng khác khó đạt được.

Và độc đáo hết sức khi ông chỉ ra giá trị đầy nhân sinh của loại hình giải trí này:

Thiên bất dữ nhàn, thả hướng mang trung tầm tiểu hạ

Sự đô như hý, hà tu giả xứ tiếu phi chân

(Trời chẳng cho nhàn vào bận rộn này tìm chút rảnh

Việc đời như kịch, há trong chốn giả bảo không chân)

Thế đấy, câu chuyện thật mà giả, giả mà thật vừa là sự khắc nghiệt vừa là vẻ đẹp của kịch trường.

Ngày rằm tháng 7 âm lịch năm Thành Thái 9, Đào Tấn mất ở quê nhà. Ông nằm lại ở núi Mai, khép lại câu chuyện giấc mộng hồn mai hoa đẹp đẽ của thi sĩ, nhà soạn tuồng, ông sư núi Mai (Mai Tăng) này. Hoa mai muôn đời là biểu tượng của sự thanh khiết và cao quý như chính tấm lòng yêu nghệ thuật và hết mình vì nghệ thuật của một người nghệ sĩ tài hoa:

Mai sơn tha nhật tàng Mai cốt

Ưng hữu mai hoa tác mộng hồn

(Núi Mai rồi giữ xương Mai nhé

Ước mộng hồn ta là đóa mai)

         Ước mộng thanh khiết tâm hồn như một đóa mai ấy đã thể hiện trong cả cuộc đời làm nghệ thuật của ông, để rồi nhắc đến ông chúng ta nhớ đến chân dung người nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 321, tháng 3-2011

Tác giả : Đoàn Thị Cảnh

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan