Nghệ thuậtĐiện ảnh-Truyền hình

Thứ Năm, 15/08/2013 | 00:00 GMT+7

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI (P2)

 

2. Những vấn đề đặt ra cho điện ảnh Việt Nam hôm nay

Trước những thách thức từ thị trường và những vấn đề mới đặt ra, điện ảnh Việt Nam nói chung và phim truyện nói riêng cần những nhu cầu biến đổi gì để phù hợp với tình hình thực tế hôm nay.

Nhu cầu biến đổi: Phim truyện điện ảnh hiện nay với thách thức từ cơ chế thị trường, chúng ta gặp rất nhiều sự cạnh tranh khác nhau.

Cạnh tranh với phim nước ngoài (cạnh tranh về rạp chiếu): Từ khi mở cửa, chúng ta đã gặp vấn nạn về băng đĩa hình nhập lậu, và một số phim ngoài luồng trôi nổi, gây ra mất cân bằng, làm rối loạn thị trường điện ảnh. Hậu quả làm cho các xưởng phim lao đao, hơn 30 hãng phim mới ra đời teo dần và phá sản vì phim làm ra không có ai mua, không có chỗ chiếu. Hiện nay, tình hình phát hành ra rạp chiếu đã ổn định hơn nhưng phim Việt lại gặp một vấn đề mới: luôn phải cạnh tranh sòng phẳng với những phim đang hot nhất trên thế giới cùng thời điểm chiếu, được nhập từ các cơ sở kinh doanh rạp chiếu. Điều này dẫn đến một thực trạng: đặt những phim Việt Nam, nhất là những phim còn bao cấp (vẫn làm theo lối mòn) vào một thế hẩm hiu, phim trình chiếu vài ngày rồi vào kho. Vì vậy, nếu không có một bước đột phá cụ thể, dù là phim nhà nước hay tư nhân cũng đều phải chịu tác động từ sự cạnh tranh này vì điện ảnh Việt Nam cũng đang trên con đường hòa chung với dòng chảy điện ảnh thế giới.

Cạnh tranh với truyền hình (cạnh tranh về công chúng): Một nguyên nhân nữa dễ nhận thấy là sự bùng nổ của các phương tiện thông tin như truyền hình, mạng internet với những kênh phim trực tuyến… cũng đã tác động không nhỏ đến tính độc quyền của rạp chiếu. Đặc biệt từ năm 1997, Đài truyền hình Việt Nam chủ trương làm lấy phim truyện để phát sóng, không cần phải lấy những phim điện ảnh để lên chương trình nữa cũng đã tạo nên một sự cạnh tranh lớn về mặt chia sẻ công chúng. Kể từ khi Đài truyền hình có hẳn một Hãng phim truyền hình song song với các hãng phim điện ảnh cũng đồng nghĩa với việc các thể loại phim của điện ảnh như phim truyện, phim tài liệu, phim hoạt hình…bị lu mờ hơn vì số lượng của phim truyền hình sản xuất ra quá nhiều và nhanh. Sự thuận tiện của truyền hình đã chia sẻ rất lớn số lượng công chúng của điện ảnh. Tính phổ cập rộng rãi ấy dần dần làm công chúng không hề phân biệt được đâu là phim truyền hình, đâu là phim nhựa điện ảnh nữa. Trên thế giới, truyền hình chưa tiêu diệt bất cứ nền điện ảnh nào mà chỉ làm điện ảnh mất thế độc tôn, đặt điện ảnh vào thế hướng theo quy luật chung của nghệ thuật thị giác, đáp ứng nhu cầu giải trí, thẩm mỹ và nhận thức của công chúng rộng rãi, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

Cạnh tranh trong nước với nhau (cạnh tranh giữa các hãng phim tư nhân, hãng phim nhà nước, phim Việt kiều…): Ở Việt Nam, tuy không chính thức nhưng từ khi mở cửa, khái niệm phim thương mại và phim nghệ thuật luôn song hành tồn tại. Từ khi Luật Điện ảnh được sửa đổi, cho phép tư nhân được tham gia sản xuất phim, rất nhiều nhà sản xuất tư nhân hướng về dòng phim thương mại và thường đón đúng thị hiếu khán giả cũng như thời điểm ra mắt nên thường có doanh thu khả quan. Trong khi đó, khá nhiều bộ phim nghệ thuật (của nhà nước đặt hàng và cả của các nhà làm phim độc lập) mang về nhiều giải thưởng quốc tế uy tín nhưng lại không mấy được khán giả mặn mà. Một ví dụ cụ thể: Trước đây, phim Việt chiếu rạp chỉ tập trung vào dịp tết thì hiện nay đã có mặt rải rác trong năm bên cạnh các phim của Hollywood (Mỹ), Hàn Quốc hay Trung Quốc… Những phim trái mùa ấy thường là của các đạo diễn Việt kiều, rõ ràng họ rất tự tin với nhũng sản phẩm mới của mình. Dù có nhiều ý kiến khen chê trái chiều nhưng những bộ phim của các đạo diễn phim Việt kiều này cũng đã phá vỡ thế độc tôn của các phim ngoại ở các rạp từ nhiều năm nay và cũng uy hiếp các xuất phim ra rạp của các phim nhà nước cũng như phim nghệ thuật của các nhà làm phim độc lập. Những con số cụ thể cho ta thấy rất rõ điều đó. Số phim thương mại được sản xuất hàng năm chiếm đến 90%, còn các phim lịch sử, phim tác giả và phim chính luận chỉ chiếm tỉ lệ 10%.

Mỗi nền điện ảnh đều sinh ra trong một bối cảnh lịch sử và có những đặc thù riêng. Nhìn vào thực trạng điện ảnh Việt Nam, chúng ta không thể đánh đồng với một một số nước có nền điện ảnh đang phát triển trong khu vực. Chúng ta phải phát triển nó từ thực trạng hiện có chứ không thể bắt nó đốt cháy giai đoạn. Điện ảnh Việt Nam chưa phải và chưa thể là một ngành công nghiệp nên phải đặt nó đúng chỗ và tìm đúng điểm rơi phù hợp để thực sự nó có một sự biến đổi hợp lý. Nhu cầu nới nhẹ hơn về khâu kiểm duyệt cũng là một nguyện vọng chính đáng vì hòa nhập với thế giới là một xu hướng tất yếu. Mở rộng thị trường điện ảnh hiện nay là một nhu cầu cấp bách. Nhưng mở rộng nó như thế nào để nó có thể phát triển mạnh mẽ mà vẫn không đánh mất bản sắc là một vấn đề đặt ra cần được lưu tâm.

Tác nhân biến đổi

Chính sách mở cửa đối với điện ảnh: Đảng và nhà nước đã có nhiều chủ trương chính sách về việc thể chế hóa hành lang pháp lý cho ngành điện ảnh. Các văn bản luật đều hướng đến sự quản lý tốt nhất của nhà nước mà không cần phải độc quyền như trước kia và thực sự cũng không thể độc quyền trong bối cảnh hiện nay. Một bộ luật điện ảnh hoàn chỉnh sẽ tạo điều kiện cho đội ngũ sáng tác điện ảnh tự do sáng tạo mà không bị bất cứ một tác động nào chi phối, và cũng đồng thời gỡ mối những chồng chéo từ cơ chế điều hành trước đây. Chủ trương khuyến khích các hãng phim tư nhân hoạt động song song với các hãng phim nhà nước, bình đẳng trước luật điện ảnh sẽ tạo cơ hội cho hoạt động điện ảnh ở Việt Nam. Tác động cụ thể nhất là đối với phim truyện, sự biến đổi một cách khởi sắc nhất sẽ giúp nó dần tìm lại vị trí của mình trong lòng công chúng.

Nhu cầu của khán giả tác động đến thị trường điện ảnh: “Cơ chế thị trường đang gắn kết điện ảnh và công chúng, gắn kết tác giả và người xem nhưng đồng thời cũng làm gián cách quan hệ đó”(8). Nhìn lại quá trình phát triển của điện ảnh, khả năng xã hội hóa của nó là vô cùng rộng lớn và mạnh mẽ. Vì thế điện ảnh Việt Nam nói chung và phim truyện nói riêng đã có thời trở thành một hoạt động văn hóa tinh thần mang tính phổ cập trong quần chúng nhân dân. Nó đã đáp ứng nhu cầu giải trí, thông tin, thưởng thức nghệ thuật và góp phần nâng cao dân trí cho công chúng

Trong thời bao cấp, nhu cầu thật của khán giả ít được quan tâm. Quan hệ giữa tác giả và khán giả trở nên xa cách và hình thức. Những quan hệ đó dễ dàng đổ vỡ khi cơ chế thị trường ập đến. Những giá trị nghệ thuật song hành với sự minh họa sơ cứng, công thức của những phim một thời phục vụ được đánh đồng với các nhu cầu điện ảnh của công chúng vốn rất đa dạng đã tạo ra những lệch pha trong cung và cầu. Sự áp đặt nghệ thuật đã kìm hãm đáng kể sự phát triển bình thường của nhu cầu thưởng thức điện ảnh. Cơ chế thị trường ào đến dẫn đến những đổi chiều khá nhanh lại đẩy các thượng đế lên quá cao tạo nên sự mất cân bằng ngược. Hướng đến phim ăn khách là một hướng đi tất yếu của một nền điện ảnh, nhưng tìm ra nguyên nhân mang tính tổng kết là một vấn đề lớn cần được đặt ra: công chúng là ai? Khủng hoảng khán giả có nguyên nhân khách quan của sự chuyển đổi xã hội nhưng điểm mấu chốt vẫn nằm ở những người trực tiếp làm ra sản phẩm điện ảnh. Xã hội mở cửa, sự bùng nổ thông tin và sự xuất hiện của các phương tiện nghe nhìn hiện đại khiến công chúng có điều kiện tiếp xúc với các tác phẩm điện ảnh thế giới. Mặt khác, các nhà kinh doanh phim hiện nay cũng luôn cập nhật các phim ăn khách nhất trên thế giới và trình chiếu trên các cụm rạp đồng thời gian với nước ngoài tạo nên sự cạnh tranh về rạp chiếu ngày càng gắt gao hơn. Do đó cạnh tranh về mặt công chúng là một điều tất yếu trong môi trường xã hội hóa nghệ thuật. Xu hướng thưởng thức điện ảnh ngày càng đa dạng, mang tính cá thể cao và biến đổi nhanh dưới tác động không ngừng của thông tin đại chúng. Nói tóm lại, nhu cầu của công chúng Việt Nam hôm nay có nhiều thay đổi, mang nét riêng, khá đặc trưng và biến đổi theo thời gian. Định hướng công chúng xem phim, hiểu phim là yếu tố góp phần nâng cao trình độ thẩm mỹ và nhận thức tác phẩm của công chúng. Xây dựng cầu nối giữa tác giả - tác phẩm với công chúng là vấn đề lớn đặt ra với các nhà điện ảnh Việt Nam hôm nay.

Xu hướng biến đổi

Phim thương mại thắng thế: Trên thế giới, giới hạn giữa cái gọi là phim thương mại và phim nghệ thuật luôn tồn tại nhưng cũng không thật rõ ràng. Khái niệm phim thương mại luôn dành để chỉ những phim có doanh thu và lợi nhuận cao, mục đích hướng đến chính là khán giả. Phim nghệ thuật chú trọng đến yếu tố tìm tòi và thể nghiệm nghệ thuật, cố gắng tìm vị trí của mình ở các liên hoan phim quốc tế… Nhưng trên thực tế, mọi sự so sánh đều chỉ tương đối. Trong thời gian gần đây, ranh giới giữa phim thương mại và phim nghệ thuật lại càng trở nên không rõ ràng. Có nhiều phim lợi nhuận cao kỷ lục nhưng không ai dám khẳng định đó là phim thương mại bởi nó giành được nhiều giải thưởng lớn mà bất cứ người làm điện ảnh nào cũng phải mơ ước. Rất nhiều nhà làm phim đã đưa yếu tố hấp dẫn vào các bộ phim nghệ thuật và đầu tư tìm tòi với phim thương mại. Giá trị một tác phẩm điện ảnh cần được xét từ hai khía cạnh: phổ cập, đáp ứng nhu cầu của công chúng và nâng cao nhận thức thẩm mỹ. Nhưng ở ta hiện nay, rất nhiều bộ phim núp bóng dưới mác phim nghệ thuật nhưng không gây được bất cứ mối quan tâm nào từ phía công chúng cũng như giới chuyên môn. Nhìn một cách tổng quan trong xu thế biến đổi hiện nay, phim thương mại đang thắng thế.

Xét về mặt doanh thu, Cô dâu đại chiến thu gần 40 tỉ sau một tháng ra rạp, Để Mai tính thu khoảng 30 tỉ, Bóng ma học đường thu về 22 tỉ sau 12 ngày công chiếu, Cánh đồng bất tận thu 17 tỉ sau một tháng công chiếu…, những con số mà những phim được gọi là nghệ thuật và những phim nhà nước đầu tư chỉ có thể nằm mơ mới thấy. Vì thế chúng ta cũng không thể phủ nhận được sự hấp dẫn và tính lôi cuốn của dòng phim thương mại. Ngược lại, sự hẩm hiu dành cho những bộ phim nghệ thuật gần đây từ doanh thu đến giải thưởng cũng là vấn đề cần đặt ra bởi nghịch lý này không chỉ diễn ra ở Việt Nam.

Ngoài sự nổi trội về doanh thu, những năm gần đây phim thương mại cũng không hề lép vế về giải thưởng tại các liên hoan phim trong nước. Ngoài giải thưởng xuất sắc nhất thường được ưu ái đặc biệt dành cho phim chính luận, phim Nụ hôn thần chết của đạo diễn Nguyễn Quang Dũng được trao giải Cánh diều bạc 2007 cho phim xuất sắc (không có giải vàng) ở thể loại phim truyện nhựa. Diễn viên Phương Thanh cũng được trao giải Diễn viên phụ xuất sắc trong phim này. Hai giải cá nhân khác nhờ vào ý tưởng mới mẻ và các kỹ xảo đặc biệt là: Biên kịch xuất sắcHọa sĩ xuất sắc. Cánh diều vàng 2011, bất ngờ lớn nhất là phim đậm chất giải trí Long ruồi lại tiếp tục nhận được giải Cánh diều bạc. Đạo diễn Charlie Nguyễn cũng bất ngờ đoạt giải Đạo diễn xuất sắc nhất. Một bộ phim khác cũng nằm trong thể loại giải trí là Sài gòn Yo! của đạo diễn Việt kiều Stephane Gauger đồng nhận Cánh diều bạc. Những giải thưởng điện ảnh mang tính nghề nghiệp thường luôn đề cao những bộ phim có tính nghệ thuật thì việc nhiều bộ phim mang tính giải trí được tôn vinh là một bất ngờ lớn. Dù chưa làm cho những người yêu điện ảnh thỏa mãn, nhưng rõ ràng sự áp đảo về số lượng phim tham gia tranh giải (8 trên 12 phim năm 2011) cũng như những con số doanh thu của nó không thể không buộc ban giám khảo có những ưu ái cho dòng phim này. Nhưng vội vàng trao giải cho một loạt phim giải trí liệu có phải là một quyết định đúng đắn? Cái đích cho những năm tới là hãy làm sao cho dòng phim tư nhân không chỉ là những phim giải trí mà còn có cả những tác phẩm nghệ thuật cao thực sự, còn dòng phim nhà nước đặt hàng có nhiều bộ phim được đánh giá cao ở các liên hoan phim quốc tế cũng cần tìm được sự đồng cảm, hưởng ứng của công chúng trong nước.

3. Những vấn đề của điện ảnh Việt Nam trong đời sống văn hóa đương đại

Tổ chức sản xuất

Hướng đến mô hình sản xuất phim truyện chuyên nghiệp: Nói đến điện ảnh, đáng chú ý nhất chính là phim truyện nhựa. Bắt đầu thời kỳ mở cửa, những quy trình cơ bản như phải có phân cảnh chi tiết, diễn viên sự thâm nhập thực tế cho vai diễn, bối cảnh, đạo cụ, hóa trang được nghiên cứu kỹ lưỡng... đều bị đốt ngắn giai đoạn. Ban đầu là do tiết kiệm chi phí, thời gian, nhân lực… nhưng dần dần những điều tưởng như vô thưởng vô phạt đó đã trở thành thói quen, biến một công việc hết sức chuyên nghiệp trở nên nghiệp dư. Vì vậy khôi phục lại quy trình làm phim đúng bài bản là cơ sở đảm bảo lâu bền và chắc chắn nhất cho thành công của một tác phẩm điện ảnh.

Trường quay chuyên nghiệp: Chúng ta không nên đầu tư theo hướng manh mún, dồn tiền vào một số phim nhân ngày lễ tết hay dịp kỷ niệm. Điều này không tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh trong nghệ thuật điện ảnh, không tạo được tính tích cực trong sáng tạo. Thay vào đó, chúng ta nên đầu tư theo hướng xây nền tảng. Phải xây nhà từ móng với sự đầu tư đầy đủ cho những trường quay chuyên nghiệp và sự đồng bộ về cả nhân tài và vật lực. Nếu như nhà nước chưa đủ sự hỗ trợ, chúng ta có thể cổ phần hóa hoặc mở cửa cho tư nhân đầu tư bỏ vốn, đứng ra làm dịch vụ như những nền điện ảnh phát triển đang làm. Cũng có thể tách riêng thiết kế mỹ thuật với hệ thống trường quay ra khỏi hãng phim (vốn bị trực thuộc và rất cồng kềnh) để thành một ngành kinh doanh độc lập, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong kinh doanh, ổn định sản xuất và nếu làm khéo có thể phát triển thêm ngành du lịch như bài học của Trung Quốc đã và đang thành công. Nếu làm được điều này, chúng ta không những thúc đẩy được điện ảnh phát triển mà còn đẩy mạnh kinh tế từ nhiều mặt khác nhau.

Hợp tác đầu tư

Mở rộng hợp tác đầu tư với nhiều hình thức: Tích cực hợp tác liên doanh làm phim với nước ngoài, mở rộng dịch vụ với những đoàn phim lớn vào Việt Nam, tạo mọi điều kiện cho các nhà làm phim ở Hải ngoại về nước đầu tư và hoạt động nghề nghiệp, đăng cai tổ chức nhiều liên hoan phim nước ngoài tại Việt Nam.

Mở cửa cho điện ảnh phát triển: Tích cực tham dự các liên hoan phim quốc tế (tập trung vào các phim có giá trị nghệ thuật), thiết lập thị trường điện ảnh Việt Nam ở nước ngoài (tập trung vào mảng phim thương mại giải trí), cả hai vấn đề này đề có những cái khó riêng, cần tìm được sự cân bằng trong cả hai hình thức biểu đạt: nghệ thuật và giải trí.

Đào tạo nhân lực

Chúng ta nói đến rất nhiều việc làm phim, phát hành, phổ biến phim… nhưng có một vấn đề phải hết sức lưu tâm đến đó là đào tạo con người. Trong những thành tựu lớn của điện ảnh Việt Nam, không thể không ghi nhận những đóng góp to lớn của việc đào tạo. Khi muốn tìm hiểu, dự đoán tương lai của một ngành, một đất nước, một trong những yếu tố đánh giá chính là nguồn cung cấp nhân lực thông qua hình thức đào tạo và mô hình đào tạo. Dù mô hình đào tạo các nước không giống nhau, và mô hình các trường điện ảnh ngay trong từng nước cũng không hoàn toàn giống nhau thì điểm chung nhất mà mọi nỗ lực đều hướng đến chính là chất lượng đào tạo. Chất lượng đào tạo tốt phụ thuộc trước hết vào đội ngũ giảng viên. Nhưng trên thực tế, ở các trường đào tạo điện ảnh hiện nay, số giảng viên cơ hữu còn rất mỏng do một thời gian dài chúng ta chưa thật sự quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ này. Một nguyên nhân nữa là chính sách đối với giảng viên nghệ thuật còn nhiều bất cập. Nghề đào tạo nghệ thuật không có sức hút mạnh mẽ đối với những tài năng trẻ. Trong nghệ thuật nói chung và nghệ thuật điện ảnh nói riêng, người có bằng cấp, học vị cao chỉ có thể giảng dạy về mặt lý thuyết, người thày giáo đứng trên bục giảng còn cần kinh nghiệm thực tế và phải có tác phẩm. Phải làm sao để người giảng viên vừa có bằng cấp, học hàm, học vị theo chuẩn đại học lại vừa có thực tế, kinh nghiệm sáng tác. Nếu không giải quyết được những vấn đề trên thì khó có thể nói tới việc xây dựng đội ngũ giảng viên đào tạo nghệ thuật có chất lượng.

Sự đột phá về đào tạo chỉ có thể thành hiện thực nếu chúng ta xây dựng được một chương trình đào tạo chất lượng trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa và kinh nghiệm của các nước tiên tiến đồng thời nghiên cứu đưa ra những nội dung phù hợp với nền giáo dục và văn hóa dân tộc. Một chương trình đào tạo như vậy vừa đáp ứng được nhu cầu đào tạo trong nước, vừa hội nhập được với thế giới.

Ba yếu tố chủ yếu: chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất là không mới và luôn được đặt ra để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho điện ảnh, nhưng đến nay vẫn là những vấn đề nổi cộm còn tồn tại. Để giải quyết tốt những vấn đề trên, cần tập trung vào những điều cơ bản sau:

Tiếp thu kinh nghiệm đào tạo điện ảnh của các nước tiên tiến, đổi mới chương trình đào tạo các chuyên ngành, đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu đổi mới của điện ảnh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Xây dựng hệ thống giáo trình đi đôi với hệ thống tài liệu tham khảo, phim tham khảo có bản quyền của các chuyên ngành nghệ thuật điện ảnh.

Xây dựng đội ngũ giảng viên cơ hữu đồng bộ, dạy được những môn cơ bản của các chuyên ngành nghệ thuật và kỹ thuật, có chính sách cho giảng viên có điều kiện, thời gian tiếp cận với thực tế và cập nhật kiến thức bằng những khóa nâng cao kiến thức ngắn hạn ở nước ngoài.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục đào tạo; phối hợp với các cơ sở đào tạo của nước ngoài để xây dựng một đội ngũ cán bộ điện ảnh trẻ tài năng, có trình độ ngoại ngữ tốt; từng bước đa dạng hóa các hình thức đào tạo: liên thông, cao đẳng, văn bằng 2, đào tạo từ xa…

Nghiên cứu tìm ra mô hình đào tạo phù hợp với đặc thù điện ảnh và xu thế phát triển hiện nay.

Đề xuất những cơ chế chính sách phù hợp với đặc thù riêng của điện ảnh, thu hút nhân tài cho lĩnh vực đào tạo điên ảnh và nguồn nhân lực cho điện ảnh.

Thực hiện những mục tiêu cơ bản trên là việc làm không hề dễ trên cơ sở thực trạng đào tạo của chúng ta, nhưng thiết nghĩ, trong tình hình chung của nền điện ảnh Việt Nam, chỉ có quyết tâm thay đổi và đổi mới từ nền tảng đào tạo thì điện ảnh Việt Nam mới có thể phát triển trước những cơ hội và thách thức hiện nay.

        Điện ảnh Việt Nam trải qua một quá trình dài trong sự biến đổi từ bao cấp sang cơ chế thị trường. Dù trong hoàn cảnh nào, dù ít dù nhiều, nó cũng đã khắc họa được bản sắc dân tộc khá đậm nét, đọng lại trong lòng người xem là hình ảnh thân thuộc của thiên nhiên, con người Việt Nam qua rất nhiều bộ phim có giá trị. Tất cả, ở mức độ khác nhau, đều chứa đựng những hiệu quả thẩm mỹ về một đất nước có bản sắc và giàu truyền thống văn hóa. Bên cạnh những ưu điểm, những thành tựu của điện ảnh trong thời gian qua, ta cũng còn thấy nhiều mặt hạn chế. Điện ảnh Việt Nam muốn hướng đến một nền điện ảnh lớn mạnh và giàu bản sắc dân tộc thực sự cần nhìn nhận lại một số quan niệm để phù hợp hơn trong xu thế mới. Bởi chỉ có những quan niệm đúng đắn thực sự mới có thể tạo nền cho những quyết định và bước tiến vững chắc, từ đó mới giải quyết được những vướng mắc của phim truyện nói riêng và điện ảnh nói chung. Để đầu tư vào xây dựng, trang thiết bị cũng không phải quá khó, nhưng xây dựng nền móng tư tưởng, thay đổi một cách nhìn, một quan niệm là cả một hành trình dài bởi năng lực và thành tựu sáng tác vẫn thuộc về con người. Cuối cùng, ươm trồng tài năng, nâng cao tri thức, nhiệt huyết sáng tạo cho đội ngũ những người làm điện ảnh cùng với cơ chế, chính sách, luật pháp hoạt động phù hợp sẽ tạo nên một bước đột phá mới cho sự nghiệp điện ảnh Việt Nam.

_______________

8. Nguyễn Phương Nam, Về nhu cầu điện ảnh của công chúng, trong Hành trình nghiên cứu điện ảnh Việt Nam, Nxb Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, Hà Nội, 2007, tr.300.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 350, tháng 8-2013

Tác giả : Trần Quang Minh

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan