Nghệ thuậtĐiện ảnh-Truyền hình

Thứ Hai, 15/07/2013 | 00:00 GMT+7

ĐIỆN ẢNH VIỆT NAM TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐƯƠNG ĐẠI (P1)

 

1. Đôi nét v đin nh Vit Nam trong bi cnh văn hóa đương đại

Bối cảnh lịch sử

“Trước đây, nhà nước nói với chúng tôi: n ngh là mt trn, ngh sĩ là người lính, thì nay nhà nước nên trả lời chúng tôi: n ngh có còn là mt trn không?”(1). Xin được bắt đầu bằng câu hỏi của NSND Bùi Đình Hạc trong một cuộc tọa đàm để trả lời cho câu hỏi bức xúc này, phải lướt qua bối cảnh lịch sử điện ảnh Việt Nam từ khi bắt đầu giai đoạn đổi mi.

Từ năm 1986, điện ảnh Việt Nam bước sang thời kỳ đổi mới mở cửa với hàng loạt những đổi thay, cải cách trong xã hội. Bản chất của vấn đề là chuyển đổi nền kinh tế đất nước từ bao cấp sang cơ chế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước. Việc chuyển đổi này có tác động sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của xã hội, trong đó có văn hóa nghệ thuật nói chung và điện ảnh nói riêng. Những năm trước đây, trong thời kỳ bao cấp, điện ảnh trong nước hoàn toàn được cấp kinh phí để sản xuất phim, hoạt động sáng tác theo tôn chỉ phục vụ, khâu phát hành do nhà nước quản lý. Do đó mối quan hệ giữa sản xuất và phát hành không có sự kết nối mà tách thành hai mảng riêng biệt. Chính vì vậy, điện ảnh Việt Nam không có cấu trúc chỉnh thể, nó tồn tại được là bởi tính bao cấp rất nặng nề của thời kỳ đó. Chủ trương đổi mới trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật đem đến những xáo trộn nhất định và tạo ra nhiều sự biến đổi. Đi đầu phải kể đến báo chí, văn học, sau đó là sân khấu. Với hoạt động sáng tác điện ảnh, tác động của đổi mới có chiều hướng hơi khác. Bởi điện ảnh vừa là ngành nghệ thuật tổng hợp vừa là một ngành công nghiệp sản xuất. Một bộ phim ra đời không chỉ nhờ công sức sáng tạo của một tập thể mà còn cần một sự hỗ trợ đầu tư rất lớn về mặt kinh phí cũng như kỹ thuật. Hơn nữa, từ khâu sản xuất đến việc phát hành phải là một quy trình khép kín hoàn chỉnh. Có thể nói đây là vấn đề cốt lõi trong quá trình chuyển đổi của điện ảnh Việt Nam. Vì vậy, kinh tế thị trường mở ra, nhà nước bắt đầu xóa bỏ bao cấp, điện ảnh chuyển từ chế độ bao cấp sang hạch toán kinh tế, việc rơi vào khủng hoảng của phim truyện là điều có thể dự đoán trước. Để hiểu được một cách sâu sắc mọi diễn biến của điện ảnh Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, chúng ta cần đặt nó trong một quá trình vận động của điện ảnh. Bắt đầu từ những năm tháng được xem là đêm trước của thời kỳ đổi mới để dẫn đến một sự chuyển hướng v cht của thời kỳ đổi mới (2).

Trong suốt 35 năm từ khi điện ảnh cách mạng ra đời (1953-1988), hoạt động điện ảnh hoàn toàn đặt dưới sự quản lý của nhà nước. Từ khâu sáng tác, sản xuất, công chiếu đến xuất nhập khẩu phim ảnh… đều theo kế hoạch, nhà nước bao cấp 100%. Với cơ chế quản lý bao cấp này, cơ quan nhà nước chỉ đạo và kiểm soát toàn bộ hoạt động sáng tạo của các nghệ sĩ. Cơ quan nhà nước luôn chủ động định hướng và đề ra những nhiệm vụ cụ thể cho ngành điện ảnh như: tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước, nhiệm vụ chính trị của ngành trong việc giáo dục tư tưởng, thẩm mỹ cho nhân dân thông qua hoạt động điện ảnh… Song nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật và giải trí của khán giả nói chung, ít được lưu ý. Vì vậy sản phẩm làm ra, đội ngũ sáng tác và sản xuất không phải quan tâm, lỗ lãi đã có nhà nước. Điểm mấu chốt ở đây là người trực tiếp sản xuất và sáng tác chỉ phải chịu trách nhiệm về khung định hướng, không hề phải chịu trách nhiệm gì về mặt kinh tế. Từ khi điện ảnh bước vào cơ chế thị trường (tác động rõ nhất vào phim truyện), nó đã làm biến động và thay đổi nhiều mặt. Cơ cấu tổ chức, cách quản lý cũ thời bao cấp không còn thích nghi được với cơ chế hạch toán. Thói quen trông chờ vào sự cung cấp của nhà nước đã tạo nên sức ỳ rất lớn cho đại đa số lực lượng sáng tác phim truyện điện ảnh nên không còn đáp ứng được nhu cầu của thời cuộc. Mặt khác, trong thời điểm này, quan hệ hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa cũng gặp nhiều khó khăn và bị gián đoạn. Trước những khó khăn ấy, việc nhập phim nước ngoài được mở ra khá sôi động, song chúng ta chưa có một quy định nào về nhập khẩu phim nước ngoài vào Việt Nam. Việc nhập phim khá tự do dẫn đến hàng loạt phim của nhiều nước trôi nổi trên thị trường, trong đó có cả phim hay và dở, có cả phim thẩm mỹ cao và độc hại. Tuy nhiên, nó cũng mang đến cho công chúng một luồng sinh khí mới, là món ăn lạ mang nặng dư vị giải trí. Rồi sau đó là sự cảm nhận và người ta so sánh với những món ăn đã quen trước đây. Từ đó, có thể thấy rõ một điều: “Ngành điện ảnh chưa có một sự chuẩn bị để chuyển đổi cơ chế. Các cơ quan quản lý chưa có những đối sách kịp thời để tạo một đường ray mi cho con tàu điện ảnh có thể khởi hành một cách suôn sẻ…”(3).

Chính thức bắt đầu từ năm 1988, nhà nước không còn bao cấp cho hoạt động điện ảnh nữa, các hãng phim buộc phải chuyển sang cơ chế tự hạch toán, kinh doanh. Phim truyện là thể loại phim chịu tác động trực tiếp nhất trong việc thả nổi bởi nó phụ thuộc lớn nhất về mặt chi phí sản xuất và phát hành. Khi người xem tiếp nhận phim và băng phim thương mại nước ngoài nhập lậu cũng là lúc một số nhà sản xuất phim Việt Nam nhận thức có thể sản xuất những loại phim mới, phục vụ quần chúng dưới dạng góp vốn hay tư nhân sản xuất núp dưới bóng những hãng phim nhà nước. Sự trì trệ sau nhiều năm bao cấp đã tạo một sức ỳ rất lớn cho đại bộ phận các nghệ sĩ điện ảnh phía Bắc khiến họ trở nên bế tắc. Họ luôn đặt ra một câu hỏi là: “Không có tiền thì làm phim thế nào?” thay vì “Chúng ta sống thế nào bằng cách làm phim”. Trong khi đó, đại bộ phận những người làm điện ảnh phía Nam nhạy bén với vấn đề này và để giải quyết bài toán kinh phí, họ sớm chuyển hướng lối sản xuất phim truyện trước đây sang sản xuất một dòng phim mới mà ta thường gọi là loại phim mỳ ăn lin.

Phim mì ăn lin là gì? T năm 1989 xut hin hình thc làm phim trên mt cht liu mi: băng hình hay còn gi là video. Phn ln các phim này chu nh hưởng yếu t thương mi t nhng phim ca M, Hng Kông... tp trung chính vào hai dng phim ph biến nht: Hành động võ hip và Phim tình cm sướt. Thc trng này đã dn đến thương mi hóa đin nh nhưng là nhng cn câu bc t các trung tâm phát trin thương mi ngh thut ln như thành ph H Chí Minh và mt s thành ph phía Nam khác. Nhng kết qu ca dng phim này, nguy him hơn, đã dy lên phong trào nhà nhà làm phim, người người làm phim. Phong trào này dn đến hu qu nghip dư hóa sáng tác đin nh - mt xu hướng lch lc nghiêm trng trong hot động đin nh thi kinh tế th trường (4).

S cnh tranh gia các nhà sn xut trong vic đưa phim mi ra phát hành đúng thi đim, đón lõng khán gi, chiếm lĩnh th trường đóng mt vai trò quan trng hơn hot động sáng tác. Đây là điu chưa tng thy trong thi bao cp cũng như vn đề định hướng sáng tác (mt vn đề rt quen thc thi bao cp) tr nên rt xa l vi nhng nhà sn xut. Yếu t câu khách phi được đặt lên hàng đầu và được th nghim dưới mi hình thc, to nên s xung cp và thương mi hóa đin nh mt cách trit để, ln át, làm lu m dn dòng phim chính thng. Nhìn nhn mt cách thc tế, phim thương mi có nhiu mt trái nhưng cũng có nhng đim tích cc. Dòng phim này ít nht cũng đã kéo công chúng quay li vi rp. Vic m rng làm phim cũng như s sàng lc ca th trường v con người cũng to điu kin cho lc lượng tr: các đạo din, biên kch, nhà quay phim, thiết kế m thut, din viên có dp th hin mình, chí ít cũng được làm chuyên môn. Điu này trong thi bao cp là hết sc khó khăn vì s lượng phim sn xut ít mà cây đa, cây đề trong ngành thì nhiu. Qua thi gian, thi hoàng kim ca dòng phim thương mi din ra không lâu (7 năm, t 1989-1995). Nhng ct truyn không thc tế trên màn nh dn đến s bế tc ca nhà sn xut cũng như bi thc v chiêu trò nhàm chán dn đến khán gi thưa dn. Đồng thi, s sàng lc khc nghit ca th trường cũng buc các nhà làm phim còn tâm huyết vi ngh phi cân nhc gia th trường và các tác động ca xã hi. Theo tng kết thì năm 1995- 80% s rp hai trung tâm ln là Hà Ni và TP.HCM phi b kinh doanh chiếu phim sang kinh doanh mt s loi hình dch v khác như vũ trường, nhà hàng, phòng karaoke… 

Lúc này, vut hin thp thoáng mt din mo mi ca phim truyn đin nh t khi đổi mi. Nhìn nhn mt cách khách quan thì dù cho đin nh th trường thng thế, vn song song tn ti mt dòng phim chính thng cho dù lép vế và ít được s ng h t phía công chúng. Dù s lượng phim không nhiu nhưng nó li đặt du n cho thi k đổi mi vi cách nhìn nhn vn đề xã hi mang tính đa chiu và mi m, đôi khi táo bo, gai góc và trn tri khi soi vào nhng mt trái cuc sng. Điu này cũng là mt đim mi ca dòng phim chính thng mà thi bao cp không có. Nói cách khác, các ngh sĩ sáng tác phim truyn đin nh đã dám nghĩ, dám làm, dám đi ti cùng trong phn ánh hin thc, th hin tinh tế nhng góc khut và khát vng ca con người như phim: Bao gi cho đến tháng mười, Cô gái trên sông, Tướng v hưu, Cánh đồng hoang Nếu phim thương mi kéo được khán gi đến rp, ít nht là thi hoàng kim ca nó, thì phim chính thng li có nhng biến đổi đáng k trong quan nim sáng tác. Điu này chính là đim mu cht to nên s chuyn hướng v cht cho phim truyn đin nh Vit Nam hôm nay.

Thc trng đin nh Vit Nam hin nay

Phát biu ca đạo din Đỗ Minh Tun trong ta đàm như mt câu hi m đặt ra cho nhng người làm đin nh hôm nay: “kinh tế th trường ùa đến, chúng tôi b đẩy ra ch và bt làm con buôn, nhng ngh sĩ - chiến sĩ chúng tôi ngơ ngác Chúng tôi là lính hay con buôn”(5). Câu hi này cũng chính là nhng vướng mc cơ bn mà ai cũng nhìn thy, hot động đin nh đang thiếu s quan tâm điu hành mt cách vĩ mô mà hin tượng th ni, buông lng, đôi khi khoán trng là điu d thy lĩnh vc phim truyn Vit Nam. Ta đều biết, đin nh là hot động chuyên sâu mang tính xã hi và liên quan đến rt nhiu lĩnh vc khác nhau ca đời sng văn hóa, kinh tế, xã hi. Vy s có hai vn đề được đặt ra trong thc trng hin nay là th trường đin nh và hot động sáng tác đin nh.

Th trường đin nh: Bt c mt nn đin nh nào cũng chu s chi phi cht ch ca th trường đin nh. trong nước, th trường tiêu th phim tuy đã hình thành t lâu nhưng chưa to dng được mt th trường đin nh thc s t nhiên và lành mnh, chu tác động trc tiếp ca quy lut cung cu. Hin nay, các đô th ln tn ti các đim kinh doanh rp chiếu là s hu ca các ch th khác nhau, thiếu s điu phi tng th. Vic xut phim ra nước ngoài cũng rt hn chế. Hiếm có các tác phm phim truyn đin nh mang nhãn hiu Vit Nam xut hin trên màn nh thương mi ca các nước. Mt th trường đin nh như vy là hết sc bó hp và chính s bó hp manh mún này hn chế hot động sn xut mang tính quy mô ca đin nh Vit Nam. T quy mô hot động gii hn như vy, thì hot động sáng tác phim truyn đin nh hin nay ra sao?

Hot động sáng tác: V mt ngh thut, hin nay phim truyn Vit Nam cũng đã có nhiu chuyn biến mi. Ngoài nhng phim đặt hàng mang tính cht tuyên truyn tp trung vào đề tài phim chiến tranh (mng đề tài mà rt hiếm hãng phim tư nhân nào mun chm đến), nhìn chung tt c các nhà làm phim đều đang phi va sáng tác va chng chi vi áp lc ca thương trường. Rt nhiu quan đim trái chiu v thc trng đin nh Vit Nam hin nay. Nhiu người quá bi quan, có nhng người li thy quá lc quan nhưng theo ch kiến ca người viết thì đin nh Vit Nam hin nay đang dn bc l hết thc cht ca mình, k c b rng ln chiu sâu, nhng thiếu ht và s mt cân đối ca nó. Nhưng rõ ràng, phim truyn đin nh vn đang tiếp tc đi theo l trình phát trin chung ca thi đại. Đã có rt nhiu phim theo xu hướng th nghim, nhiu phim đã có s cách tân theo hướng đa tuyến, đa tng, đề tài phong phú, hướng dn th hiếu khán gi nhiu hơn. Tuy nhiên vì gii hn vĩđối vi hot động ca đin nh, có th bó li nhng vn đề đang tn ti trong hot động sáng tác:

Thiếu nhân vt đin hình ca thi đại: Nhng tác phm ngh thut trường tn theo thi gian đều phi có nhân vt đin hình. Đin nh giai đon trước ca chúng ta tng thành công vì có nhng đin hình rt c th, ví dụ như hình tượng người ph n: ch Tư Hu (phim Ch Tư Hu), bé Nga (phim Chim Vành khuyên), Ch Vân (phim Ni gió). Hay hình tượng người lính như anh Núi (phim Đường v quê m); người chiến sĩ Nam (Phim Bài ca ra trn) Nhng nhân vt mt thi đã là đin hình cho xã hi được phn ánh, dù nó được phn ánh mt chiu nhưng vn rt c th và thành công (6). Vy, chân dung nhân vt đin hình thi đại hôm nay như thế nào? Vn là nhng nhân vt được đưa ra không rõ ràng, l nh và thiếu cá tính, không đại din được cho thi đại. Nói mt cách rõ hơn, vic xây dng nhân vt thiếu s định hướng và quá đa tuyến

Thiếu tính hin thc: Đin nh Vit Nam dù biến đổi thế nào vn nm trong xu hướng sáng tác hin thc xã hi ch nghĩa, vy thiếu tính hin thc thì hin nay phim truyn Vit Nam đang đi theo xu hướng nào? Th nht nhng phim được gi là ngh thut đình đám gn đây như Chơi vơi hay Bi, đừng s!... không phn ánh mt cách đin hình thc trng đời sng xã hi mà đi sâu vào tìm kiếm cái l trong nhng tâm trng khép kín, nng v s tưởng tượng, xa ri thc tế đời sng, thiếu hơi th ca hin thc làm cho công chúng thy lc lõng, thiếu tính thuyết phc (7).

Xu hướng làm phim thương mi thì càng xa ri hin thc hơn. Đim qua nhng phim gn đây, ta có th thy được mt s xu hướng đin hình: Phim võ thut và dã s được khai thác công phu và làm trit để như: Dòng máu anh hùng, Thiên mnh anh hùng... Trên thc tế nhng dng phim này đã được phát trin khá mnh t thi k phim mì ăn lin, nhưng hin nay được các nhà đầu tư phát trin mt cách quy mô hơn vi các nhà làm phim tư nhân như Chánh Phương, Phước Sang, BHD cùng nhng trang thiết b tt, đội ngũ sn xut chuyên nghip, đạo din Vit kiu được đào to bài bn nên cht lượng v hình nh, k xo khá cun hút. Tiếc rng, lch s trong nhng phim này ch là cái phông thiếu s kết dính. H ch tp trung khai thác vào yếu t võ thut và k xo hình nh, còn các nhân vt thì đài các và quá xa l, vì vy phim ch đang dng li nhu cu gii trí v mt th giác ca mt b phn công chúng. Ti sao li là dã s mà không phi lch s? Chúng ta đâu có th làm phim lch s trên mt nn tng thiếu ht v nghiên cu cơ bn cũng như cơ s trường quay như ngày hôm nay. Đầu tư trường quay vào mt s hng mc cơ bn để có hiu qu th giác thì nhà sn xut có th b vn. Nhưng cht xám dành cho nhng công trình nghiên cu nghiêm túc v không gian bi cnh cũng như phc trang, hóa trang cho phim lch s thì còn là mt khong trng quá ln mà không my nhà đầu tư cho phim truyn đin nh mn mà. 

Dng th hai thường thy trong nhng phim gii trí gn đây là dng tình cm hài và kinh d. Trong dng tình cm sướt mướt pha mt chút hài thì phim ít có kh năng khai thác chiu sâu tâm lý và luôn né tránh hiên thc xã hi đang din ra. H thường mô t mt cách phiến din vi nhng cnh phim hào nhoáng, nhà lu xe hơi, d tic, dã ngoi c như mt xã hi nào đó là l, đắp lên nhng nhân vt là người Vit Nam. Không ch nhng đạo din như Victor Vũ (Chuyn tình xa x, Cô dâu đại chiến), Nguyn Quang Minh (phim Hêlô, cô Ba), Nguyn Trng Khoa (phim 14 ngày phép) mà ngay như mt đạo din khó tính và có gu như Lê Hoàng cũng mc phi vn đề này trong b phim mi nht ca mình (phim Ti nay 8 gi). Xu hướng thiên v miêu t tình yêu xa l này kết hp vi yếu t kinh d, xã hi đen trong mt s phim gn đây như N hôn thn chết, Ngôi nhà trong hm, Long rui... đã kéo được khán gi đến rp nhưng cũng vô tình to ra mt khong trng ln cho vic phn ánh hin thc con người và môi trường văn hóa Vit Nam hôm nay.

(còn nữa)

_______________

1, 5. Nguyên Bình (ghi), Cải t nn đin nh - mu cht con người, thegioidienanh.vn

2, 3, 4. Nhiều tác giả, Lịch s đin nh Vit Nam, tập 2, 2006, tr.254, 260, 270.

6, 7. Lê Ngọc Minh, Thực trng đin nh vit Nam t mt góc nhìn, trong Hành trình nghiên cứu đin nh Vit Nam, Nxb n hóa Thông tin, Tạp chí n hóa Ngh thut, Hà Nội, 2007, tr.218.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 349, tháng 7-2013

Tác giả : Trần Quang Minh

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan