Nghệ thuậtĐiện ảnh-Truyền hình

Thứ Hai, 15/04/2013 | 00:00 GMT+7

NHÌN LẠI PHIM TRUYỆN VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 (P2)


Phim truyện sau năm 2000 đến nay

Từ sau năm 2000, điện ảnh Việt Nam có nhiều hoạt động sôi nổi, diễn biến đột phá so với thập kỷ trước. Từ năm 2000 đến năm 2004 có rất ít phim ngoài kinh phí tài trợ hoặc đặt hàng của nhà nước, ngoại trừ một vài phim liên doanh tài trợ nước ngoài như: Mê Thảo thời vang bóng, Vũ khúc con cò (2002), hay phim tự huy động vốn: Gái nhảy (2002); Lọ lem hè phố (2003); Những cô gái chân dài, Nữ tướng cướp (2004).

Số phim nhựa từ những năm 2000 đến nay cũng có nhiều biến động. 2000: 7 phim, 2001: 4 phim, 2002: 16 phim, 2003: 7 phim, 2004: 10 phim, 2005: 17 phim, 2006: 5 phim, 2007: 19 phim, 2008: 8 phim, 2009: 11 phim, 2010: 14 phim, 2011: 9 phim, 2012: 12 phim. Trong đó, số lượng phim tư nhân chiếm tỷ lệ đáng kể, và có xu hướng tăng lên theo các năm. Nếu tại các kỳ liên hoan phim Việt Nam (LHPVN) trước, tỷ lệ phim tư nhân mới chỉ chiếm 1/3, thì nay đã lên tới 3/4 như các năm 2010, 2011, 2012. Trong LHPVN lần thứ 17 năm 2011 tại Phú Yên, phim tư nhân chiếm tới 10/17 phim truyện dự thi.

Nhận thức và chính sách tuy chậm trễ, nhưng đáng ghi nhận là sự cởi mở cho điện ảnh tư nhân.

Trong năm 2000, Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam (nay là Viện phim Việt Nam) hưởng ứng nghị định 90/ CP đã tổ chức 2 hội thảo lớn tại Hà Nội và TP.HCM, tập trung bàn về nhận thức, bước đi, giải pháp cho công cuộc xã hội hóa điện ảnh. Các bản tham luận đã được in thành sách Một số vấn đề về xã hội hóa hoạt động điện ảnh ở Việt Nam để phục vụ hội thảo. Có thể nói, đây là đóng góp đáng kể về cơ sở nhận thức, lý luận, thực tiễn cho tiến trình điện ảnh bước vào xã hội hóa một cách tự giác, hạn chế tính tự phát của thời kỳ trước. Những vấn đề mà thập kỷ trước còn e dè như: cổ phần hóa hãng phim nhà nước, cho phép thành lập hãng phim tư nhân... đều được hội thảo nêu lên và khẳng định tính bức thiết, tất yếu.

Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch (VHTTDL) trong quyết định số 38/ 2002/QĐ-BVHTT đã cho phép thành lập hãng phim tư nhân. Tiếp đó trong năm 2003, Cục điện ảnh đã ban hành quy chế hoạt động của hãng phim tư nhân. Như vậy, chủ trương xã hội hóa văn hóa nghệ thuật mà nhà nước đề ra từ 1997, được ngành bàn thảo rộng rãi năm 2000, nay đã có các văn bản chính thức khai thông, nhờ vậy phim truyện đã bật dậy như có sức sống mới. Từ năm 2005 số lượng phim tăng rõ rệt với sự tham gia nhiều hãng phim tư nhân: Thiên Ngân, Phước Sang, Chánh Phương, BHD, HK, Lý Huỳnh, Phương Nam...

Tới nay tính cả nước có trên 30 hãng phim tư nhân, hai phần ba số đó thuộc địa bàn Nam Bộ, chủ yếu vẫn là TP.HCM. Như vậy, lại một lần nữa các nhà làm phim ở TP.HCM tích cực nhập cuộc. Nhưng lần này, họ làm với tinh thần chính quy, quy mô đầu tư lớn, máy móc hiện đại gấp nhiều lần so với thập kỷ 90 TK XX.

Cùng với những quyết định và quy chế ban hành trong các năm 2002, 2003, thì năm 2006 Luật điện ảnh ra đời tương đối phù hợp với xu thế phát triển và đã thực sự hỗ trợ cho điện ảnh đi vào cơ chế mới. Đó là những yếu tố có tính đột phá đáng khích lệ cho điện ảnh.

Thực tiễn tiếp tục cho thấy đối với điện ảnh tư nhân và thị trường, chỉ cần chính sách và lề luật phù hợp có tính khuyến khích là nó sẽ tự thân phát triển mà không cần bầu sữa trợ cấp của nhà nước. Điều này diễn biến 20 năm qua khá rõ, 5 năm gần đây càng sáng tỏ.

Thị trường phát hành phim và chiếu bóng tăng trưởng mạnh: từ năm 2000 đến 2010 tăng 13 lần từ 2 lên 26 triệu đô la, doanh thu năm 2011 tăng 40%, đây là con số hiếm nơi nào trên thế giới có được. Dự báo thị trường năm 2016 sẽ có tổng doanh thu khoảng 110 triệu đô la (2).

Có thể nói trong cuộc cạnh tranh không cân sức với phim ngoại nhập, chủ yếu là Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc..., phim Việt Nam đã vô cùng kiên cường gắng gỏi tồn tại, không những thế, còn có lúc thu hút đông đảo khán giả. Nếu Gái nhảy, Lọ lem hè phố như hiện tượng phim ăn khách năm 2002, 2003, còn bị kỳ thị, rẻ rúng khiến đạo diễn Lê Hoàng bật khóc trong hội thảo tại LHPVN lần thứ 14-2004 tại Buôn Mê Thuột, thì nay việc làm phim thị trường lại rất được coi trọng. Nhà sản xuất hay đạo diễn làm được phim ăn khách, đạt kỷ lục bán vé đều tự hào không kém, thậm chí hơn cả có giải. Đã có nhiều phim đạt doanh thu cao từ 10 đến 20 tỷ: Cánh đồng bất tận, Nụ hôn thần chết, Công chúa teen và ngũ hổ tướng, Hello cô ba, Dòng máu anh hùng, Để mai tính, Bẫy rồng, Bóng ma học đường, Huyền thoại bất tử... Thậm chí, đến trên 40 tỷ: Cô dâu đại chiến, Long ruồi... Không chỉ có yếu tố ăn khách, nhiều phim tư nhân còn giành được giải thưởng tại LHPVN, Cánh diều của Hội điện ảnh: Những cô gái chân dài, Dòng máu anh hùng, Cánh đồng bất tận, Hot boy nổi loạn...

Một tiến bộ của thị trường là việc xã hội hóa rạp chiếu phim tương đối phát triển ở các thành phố lớn. Mô hình rạp đa năng Multiplex và Cineplex trở nên phổ biến tại Hà Nội, TP.HCM và vài ba thành phố lớn khác. Phát triển mạnh nhất là hệ thống của công ty Megastar. Ngày 13-12-2012 tại sự kiện Cine Asia - Hong Kong, Megastar đã được vinh danh thành tựu marketing xuất sắc nhất khu vực châu Á.

Hiện nay, cả nước có 93 rạp và cụm rạp với 214 phòng chiếu. Rạp do nhà nước quản lý có 72 gồm 104 phòng chiếu với 26.279 ghế ngồi. Chủ yếu là các rạp đơn lẻ, trang thiết bị lạc hậu, xuống cấp, hoạt động cầm chừng, chỉ có Trung tâm chiếu phim quốc gia là hiện đại với 6 phòng chiếu. Trang thiết bị kỹ thuật: 73 phòng chiếu âm thanh lập thể, 17 phòng mônô, 27 phòng kỹ thuật số. Rạp của các công ty cổ phần, tư nhân và liên doanh có 21 gồm 111 phòng chiếu với 19.768 ghế, tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai. Trang thiết bị hiện đại, với 91 phòng âm thanh lập thể, 14 phòng mônô, 51 phòng kỹ thuật số (3).

Từ năm 2006, việc tài trợ của nhà nước được triển khai qua đấu thầu kịch bản. Tuy nhiên, do kinh phí nhỏ giọt, vài ba phim một năm, bấy nhiêu không đủ hà hơi tiếp sức cho các hãng phim nhà nước vốn quen dựa vào tài trợ, đặt hàng phim phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, kỷ niệm ngày lễ. Đôi ba năm vẫn có một phim nhà nước đầu tư đạt chất lượng và đoạt giải cao, song nền điện ảnh quốc doanh ngày càng lún sâu vào suy thoái, Hãng phim truyện Việt Nam và Fafilm là điển hình.

Chấn hưng điện ảnh cần tiền hay chính sách - mô hình?

Nhận xét về thực trạng điện ảnh Việt Nam hiện nay, nhiều người tỏ ra bi quan. Đạo diễn Nguyễn Thanh Vân nhận định điện ảnh Việt Nam đang nửa chết, nửa sống. Nhưng cũng có nhiều ý kiến tích cực, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên lại khẳng định điện ảnh Việt Nam đang sống và tốt dần lên. Nó phát triển theo quy luật tự nhiên và đó là điều quan trọng nhất của điện ảnh. Còn nói điện ảnh chết là điện ảnh bao cấp. Phải thay đổi theo quy luật phát triển hiện tại.

 Thực ra, Hãng phim truyện Việt Nam sau năm 2000, thuộc diện cổ phần hóa, nhưng gặp phải vướng mắc là họ không có sổ đỏ. Mảnh đất mà hãng phim tọa lạc lại là đất ở nhờ của cơ sở khác. Hiện nay, có tranh chấp ven hồ về dự án đường bao Hồ Tây. Cho nên càng thêm khó khăn khi muốn ở riêng tự làm tự ăn, tránh mang tiếng dựa vào nhà nước...

Hãng Fafilm công ty hàng đầu về xuất nhập khẩu phim một thời, nay “nếu như năm 2007, 2008 Fafilm còn nhập được 1 hoặc 3 phim một năm thì kể từ năm 2009 đến nay, công ty này không còn nhập được thêm một phim nào”(4). Fafilm sống được vì có vị trí tốt, lại đã được cổ phần hóa. Họ tồn tại nhờ cho thuê địa điểm và cung cấp đĩa hình có tem cho các đại lý. Ngoài ra, hàng năm làm vài ba đợt phát hành phim phục vụ ngày lễ theo nhiệm vụ.

Do tình hình cấp bách, cuối tháng 9-2011, Bộ VHTTDL đã tổ chức hội nghị gặp mặt nghe ý kiến cán bộ quản lý, những người làm phim với tọa đàm Thực trạng điện ảnh Việt Nam và giải pháp. Cuộc gặp được coi là hội nghị Diên Hồng về chấn hưng điện ảnh trong thời kỳ mới. Những vấn đề còn ách tắc của hàng chục năm qua lại được đưa ra bàn bạc, thảo luận.

Trong hội nghị, đa số kêu gọi nhà nước phải quan tâm đến điện ảnh, phải có chiến lược tổng thể đối với phát triển điện ảnh. Tuy nhiên cũng có nhiều ý kiến trái chiều cho rằng nên xóa sổ điện ảnh nhà nước, hãy để cho tư nhân làm phim, tự điều chỉnh lấy nội dung, điều tiết theo cơ chế thị trường. Thậm chí có ý kiến nên bỏ hẳn việc kiểm duyệt. Nhà nước chỉ có trách nhiệm phân loại những bộ phim cấm trẻ em dưới 15, 17 tuổi xem...

Những tín hiệu báo động và phát động chấn hưng lần này hầu như chỉ có ý nghĩa gióng chuông, khó được nhà nước cấp tiền cho như lần giữa thập kỷ 90 TK XX. Như vậy, lối thoát cho điện ảnh quốc doanh không đơn giản là hội nghị, ý kiến trông chờ nhà nước trợ giúp như bài ca muôn thuở. Cách xây dựng nền điện ảnh thời đổi mới, hội nhập, tỉnh táo mà nói, cũng sẽ không thể dựa vào các giải pháp tình thế hà hơi, thổi ngạt, con khóc mẹ cho bú như hơn 20 năm qua.

Bức tranh của điện ảnh Việt Nam ngày nay đã quá rõ ràng. Một khu vực điện ảnh tư nhân ngày càng lớn mạnh tạo nên thị trường kinh doanh sôi động. Nhà nước chỉ có thể quản lý khu vực này theo cách quản lý thị trường bằng việc giám sát, kiểm soát không để xảy ra trốn thuế, hay những sản phẩm độc hại ảnh hưởng đến người dân. Đối với khu vực điện ảnh nhà nước, họ sẽ tự bỏ vốn để sản xuất những bộ phim mang tính giáo dục truyền thống, chiếu trong các dịp kỷ niệm, ngày lễ lớn của dân tộc... Vấn đề nhà nước cần suy nghĩ là hiệu quả đồng tiền bỏ ra để có được những bộ phim mang nội dung sâu sắc, chất lượng nghệ thuật cao, chứ không phải là những tác phẩm điện ảnh nhạt nhẽo, làm cho xong rồi cất kho.

Trong công cuộc chấn hưng điện ảnh cách đây hơn 10 năm, nhà nước đã bỏ ra 208,8 tỷ đồng. Cũng nhờ có số tiền này mà nhiều hãng phim nhà nước được trang bị thêm một số máy quay, thiết bị chiếu sáng, thu thanh, xây dựng Trung tâm chiếu phim Quốc gia, phục hồi lại hệ thống các rạp, trang bị máy phóng cho mạng lưới chiếu phim video ở miền núi... Số tiền nhà nước bỏ ra cho điện ảnh không phải nhỏ, nhưng lãng phí cũng không ít. Cả một cơ ngơi in tráng, làm hậu kỳ hiện đại nằm đắp chiếu ở Trung tâm kỹ thuật điện ảnh trên đường Hoàng Hoa Thám vì tất cả các phim truyện của Việt Nam đều đem sang Bangkok làm hậu kỳ, vừa rẻ lại tốt. Ba bộ máy làm kỹ xảo đắt tiền cũng nằm mốc meo không có người sử dụng. Trường quay Cổ Loa đang xây dựng e rồi cũng sẽ cùng chung số phận. Cuộc chấn hưng điện ảnh ấy đã qua hơn 10 năm, nhưng vẫn chưa có một cuộc tổng kết rút kinh nghiệm. Nếu nhà nước muốn duy trì khu vực điện ảnh, thì việc trước tiên cần làm là phải thay đổi lại quy chế đầu tư và đặt hàng trong điện ảnh. Quy chế hiện hành biến những người nhận đặt hàng của nhà nước thành ông chủ, coi nghệ sĩ như người làm công với mối quan hệ xin cho. Nó cũng tạo ra vô số kẽ hở để kẻ trung gian rút ruột. Về phương diện quản lý, nhà nước cần sửa đổi lại luật điện ảnh, cải tiến lại chính sách thuế để vừa khuyến khích sản xuất, vừa đảm bảo không bị thiệt thòi. Còn khu vực điện ảnh tư nhân thì hãy để nó tự phát triển và tồn tại theo nguyên tắc tôn trọng quy định và pháp luật. Nhưng nghĩ cho cùng, điều khán giả cần ở điện ảnh Việt Nam là những bộ phim hay có chất lượng, bất kể của nhà nước hay tư nhân.

Hiện tại, Cục điện ảnh được Bộ VHTTDL giao soạn thảo Chiến lược phát triển điện ảnh đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Tất cả thành bại sẽ phụ thuộc vào các chính sách phù hợp thực tiễn và quy luật phát triển thời đổi mới, hội nhập. Đó là quy luật xã hội hóa, nghệ thuật hóa và thị trường hóa. Ngược lại, theo hướng nhà nước hóa, tất yếu sẽ thất bại.

_______________

1. Nhiều tác giả, Một số vấn đề về xã hội hóa hoạt động điện ảnh ở Việt Nam, Viện Nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh Việt Nam, 2001, tr.204.

2. Trích từ Tạp chí Điện ảnh, ngày 5-3-2011, tr.6, 7.

3, 4. Trích báo cáo đề dẫn của Cục điện ảnh tại Hội nghị bàn về Thực trạng và giải pháp cho công tác phát hành, phổ biến phim giai đoạn 2012 - 2015, tháng 7-2012.

Nguồn : Tạp chí VHNT số 346, tháng 4-2013

Tác giả : Đặng Minh Liên

Ý kiến bạn đọc

Loading.....

(Vui lòng điền đầy đủ thông tin và gõ nội dung bằng tiếng Việt có dấu)

Bài viết liên quan